Thống kê

Tổng truy cập: 1705040
Trong tháng: 2775
Hôm nay: 103
Đang Online: 4

Liên kết - Quảng cáo

Thư viện AMBN
cổng thông tin ts
Đại học Duy Tân
Ngày đăng: 23/03/2013
Lượt xem: 1669

Nhà văn Nam Cao


Nhà văn Nam Cao (29/10/1915-30/11/1951) tên thật là Trần Hữu Tri ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam). Ông sinh ra trong một bậc trung và đông anh em, gia đình ông theo Công giáo. Cha ông là cụ Trần Hữu Huệ, là người đa tài vừa làm thầy thuốc vừa làm thợ mộc. Mẹ ông là cụ Trần Thị Minh rất khéo tay cụ làm nghề dệt vải, nổi tiếng dệt đẹp trong làng.
Nhà văn Nam Cao là một trong những nhà văn Việt Nam tiêu biểu nhất thế kỷ XX. Nhiều truyện ngắn của ông được đánh giá là mẫu mực cho thể loại văn học hiện thực. Đặc biệt một số nhân vật trong các truyện ngắn của nhà văn Nam Cao trở thành những hình tượng điển hình, được sử dụng trong ngôn ngữ hàng ngày như : Chí Phèo, Thị Nở,...

Ông còn có các bút danh khác: Thúy Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê, Nam cao...

Thủa nhỏ, nhà văn Nam Cao học cơ sở ở trường làng, đến cấp Tiểu học và Trung học, ông được gia đình gửi xuống Nam Định học ở trường Cửa Bắc rồi trường Thành chung. Nhưng vì thể chất yếu, chưa kịp thi Thành Chung ông phải về nhà chữa bệnh.
Năm 18 tuổi, ông cưới vợ.

Nhà văn Nam Cao từng làm nhiều nghề để kiếm sống và ông đến với văn chương đầu tiên cũng vì mục đích mưu sinh. Sau khi lấy vợ ông vào Sài Gòn, ông nhận làm thư ký cho một hiệu may, bắt đầu viết các truyện ngắn Cảnh cuối cùng, Hai cái xác. Các truyện ngắn của ông được đăng trên nhiều báo như: Hữu Ích, Tiểu thuyết thứ Bảy,...Trong giai đoạn này, các truyện ngắn của nhà văn cũng đã được giới văn nghệ sỹ để mắt và đượcđộc giả quan tâm. Tiêu biểu như: Nghèo, Đui mù, Những cánh hoa tàn, Một bà hào hiệp. Có thể nói, các sáng tác "tìm đường" của Nam Cao thời kỳ đầu còn chịu ảnh hưởng của trào lưu văn học lãng mạn đương thời.

Sau một thời gian ở Sài Gòn, ông trở ra Bắc để học và thi lấy bằng Thành chung. Thời gian này, nhà văn Nam Cao dạy học ở Trường tư thục Công Thành (Thụy Khuê - Hà Nội). Ông vừa dạy học vừa sáng tác, thời gian sau ông đưa in truyện ngắn Cái chết của con Mực trên báo Hà Nội tân văn.

Tổng cục Bưu Điện phát hành bộ tem "Kỷ niệm
50 năm ngày mất nhà văn Nam Cao (1951-2001)"
Năm 1941, ông rời Hà Nội về dạy học ở Trường tư thục Kỳ Giang, tỉnh Thái Bình. Lúc này, ngòi bút của ông đã được rèn giũa nên ông lần lượt cho ra đời cho ra đời nhiều tác phẩm được đánh giá cao. Tiêu biểu như : tiểu thuyết Chết mòn (sau đổi là Sống mòn); truyện dài nhiều kỳ Truyện người hàng xóm được in trên Trung Bắc Chủ nhật. Đặc biệt, trong năm này ông cho in tập truyện đầu tay Đôi lứa xứng đôi (tên trong bản thảo là Cái lò gạch cũ) do NXB Đời mới Hà Nội ấn hành. Tập truyện này đã được đón nhận như là một hiện tượng văn học thời đó.

Năm 1942, ông trở về quê và tiếp tục viết văn.

Tháng 4/1943, nhà văn Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc và là một trong số những thành viên đầu tiên của tổ chức này.

Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông cùng nhiều đồng chí tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân. Sau đó, ông được cử làm Chủ tịch xã. Thời gian này, ông cho in truyện ngắn Mò sâm banh trên tạp chí Tiên Phong.

Năm 1946, ông ra Hà Nội hoạt động trong Hội Văn hóa Cứu quốc và là thư ký toà soạn Tạp chí Tiên Phong của Hội . Cùng năm, ông tham gia đoàn quân Nam Tiến với tư cách phóng viên, hoạt động ở Nam Bộ. Tại Nam Bộ, nhà văn Nam Cao viết và gửi in truyện ngắn Nỗi truân chuyên của khách má hồng trên tạp chí Tiên Phong. Sau đó, ông lại trở về Bắc nhận công tác ở Ty Văn hoá Hà Nam.

Mùa thu năm 1947, nhà văn Nam Cao lên Việt Bắc, vừa là người phụ trách tờ báo Cứu quốc vừa làm phóng viên. Ngoài ra, ông còn là thư ký toà soạn báo Cứu quốc Việt Bắc.
Năm 1948, nhà văn Nam Cao được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam.

Năm 1950 , ông nhận công tác ở tạp chí Văn Nghệ (thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam) và là Ủy viên Tiểu ban Văn nghệ Trung ương. Tháng 6, ông thuyết trình về vấn đề ruộng đất trong Hội nghị học tập của văn nghệ sỹ. Cùng năm, ông tham gia chiến dịch Biên giới.

Năm 195l, ông và nhà văn Nguyễn Huy Tưởng dự Hội nghị văn nghệ Liên khu III. Sau đó, ông tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp ở khu III. Trong chuyến công tác tại tỉnh Ninh Bình, Nam Cao bị quân Pháp phục kích bắt được và xử bắn.

Ông hy sinh ngày 30 tháng 11 năm 195l, tại Hoàng Đan (Ninh Bình).

Năm 1956, tiểu thuyết Sống mòn của ông được xuất bản lần đầu.

Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật đợt I.

Có những nhà văn chỉ cần nhắc đến tên nhân vật trong truyện của họ là nhớ đến tác giả, nhà văn Nam Cao ở vào trường hợp đó. Chỉ cần nói đến Chí phèo, Thị Nở, Hộ, Hoàng là độc giả nhớ về nhà văn Nam cao với một sự trân trọng - một nhà văn đầy lòng nhân ái.

Sáng tác tiêu biểu:

Tiểu thuyết
• Truyện người hàng xóm (1944) - Báo Trung văn Chủ nhật.
• Sống mòn (viết xong 1944, xuất bản 1956)[3], ban đầu có tên Chết mòn
• Và bốn tiểu thuyết bản thảo bị thất lạc: Cái bát, Một đời người, Cái miếu, Ngày lụt.

Truyện ngắn

-Chí Phèo (1941)
-Trăng sáng (1942)
-Đời thừa (1943)
-Lão Hạc (1943)
-Một đám cưới (1944)
-Nửa đêm (1944 );
- Cười (1946 );
-Đôi mắt (1948)

Ngoài ra ông còn làm thơ và biên soạn sách địa lý với Văn Tân Địa dư các nước Châu Âu (1948), Địa dư các nước châu Á, châu Phi (1949), Địa dư Việt Nam (1951).

  • (Theo ThoVietNam)

 

Gương sáng

Hình ảnh hoạt động











Bình chọn

Bạn hãy cho nhận xét về màu sắc Website mới
Màu sắc vừa phải
Màu sắc tươi sáng
Màu sắc nhạt nhòa
Màu sắc quá đẹp

Chat Box

Liên kết website